Label-1

Phượt

Teen tự sướng

Những cây cầu gắn với lịch sử của Sài Gòn
(VNE) - Nhắc đến Sài Gòn không thể không nhắc đến những cây cầu, bởi rất nhiều (trong tổng số 200 cây cầu lớn nhỏ) đã gắn với vùng đất này từ thuở mới được khai phá. Hơn 300 năm hình thành và phát triển, Sài Gòn có nhiều cây cầu gắn liền với lịch sử, ký ức sâu đậm của người dân.

< Cầu Mống xưa.

Cầu Mống

Là một trong những cây cầu cổ xưa nhất còn sót lại ở Sài Gòn, cầu Mống bắc qua kênh Tàu Hủ - Bến Nghé, nối quận 1 và quận 4 (đất Khánh Hội xưa). Cầu đậm nét phương Tây, do công ty vận chuyển hàng hải Pháp Messageries Maritimes đầu tư và công ty Levallois Perret (tức Eiffel cũ) thi công vào năm 1893-1894.

< Cầu Mống ngày nay.

Cầu dài 128 m, rộng 5,2 m, lề bộ hành rộng 0,5 m, xây bằng thép kiên cố. Thành cầu uốn cong có những khoảng trống, sơn xanh (ban đầu cầu có nước sơn màu đen). Hình dáng vòng cung giống cầu vồng nên người dân gọi tên là cầu Mống.

Trong giai đoạn thi công Đại lộ Đông - Tây và Đường hầm sông Sài Gòn, cầu được tháo dỡ hoàn toàn, sau khi công trình này hoàn tất thì cầu được lắp ghép lại theo nguyên bản và gia cố thêm phần trụ móng kèm trang bị chiếu sáng mỹ thuật. Hiện cầu hơn 100 tuổi đã được khôi phục dành cho người đi bộ, nơi chụp ảnh cưới, ngắm cảnh về đêm, đứng xem pháo hoa mỗi dịp lễ, tết của người dân Sài Gòn.

Cầu Thị Nghè

< Cầu Thị Nghè năm 1927.

Cầu Thị Nghè bắc qua rạch Thị Nghè (đoạn gần hạ lưu đổ ra sông Sài Gòn), nối quận 1 và quận Bình Thạnh. Cầu được cho là do bà Nguyễn Thị Khánh, con gái quan khâm sai Nguyễn Cửu Vân xây vào 18 (khoảng năm 1725-1750) để chồng tiện đường qua Sài Gòn làm việc. Chồng bà là thư ký, đương thời gọi là ông Nghè, nên nhân dân gọi bà là Bà Nghè.
Dulichgo
Năm 1867, cầu được làm lại bằng cầu sắt, đến năm 1970 được xây mới bằng bêtông cốt thép. Từ giữa thế kỷ 19, cầu được gọi là Thị Nghè cho đến nay.

Theo sử sách, vùng Thị Nghè xưa là nơi có khu ruộng Tịch Điền, đàn Xã Tắc, miếu thờ Thần Nông, đàn Tiên Nông (những cơ sở này nằm trước nhà thương dưỡng lão, nay là Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè), miếu Văn Thánh...
Dulichgo
Trên địa bàn Thị Nghè từng có một số cơ sở công nghiệp như: hãng Chén (nay là Công ty sứ Thiên Thanh), nhà máy Dây thép Thị Nghè (nay là Công ty vật tư Bưu Điện), hãng Dầu Phú Mỹ, hãng ôtô buýt (nay là trường Phú Mỹ), hãng Mỡ Guyonnet... Thị Nghè cũng là nơi xuất hiện một trong những nhà in đầu tiên của đất Sài Gòn: Nhà in kiêm nhà sách Joseph Nguyễn Văn Viết ra đời năm 1917.

Cầu sắt Bình Lợi

Bình Lợi là cầu sắt vượt sông Sài Gòn đầu tiên, được xây dựng và hoàn thành năm 1902. Cầu được kết cấu vòm thép, mặt gỗ, và có đường ray xe lửa nối Sài Gòn và Biên Hòa. Nhịp giữa quay được cho tàu qua, xây dựng bởi công ty Pháp Lavelois Perret (tên của công ty Eiffel do Gustav Eiffel, người kỹ sư xây tháp Eiffel sáng lập).

Sau 113 năm khai thác, cầu đã bị xuống cấp nghiêm trọng, chiều cao thông thuyền của cầu chỉ còn 1,8 m nên khi có thủy triều lên, nhiều tàu đã mắc kẹt dưới gầm cầu. Bộ GTVT đang thực hiện dự án xây dựng cầu đường sắt Bình Lợi mới để thay thế cầu cũ. Cầu mới được xây cách cầu cũ 12 m về phía hạ lưu với độ thông thuyền 7 m để không ảnh hưởng đến giao thông thủy. Sau khi hoàn thành sẽ giúp vận tốc chạy tàu qua cầu Bình Lợi đạt 100 km/h.

Cầu chữ Y

< Cầu chữ Y xưa.
Dulichgo
Cầu do người Pháp xây dựng vào cuối năm 1938 và hoàn thành năm 1941. Cầu nối quận 5 và quận 8 với ba nhánh giống như hình một chữ Y lớn: nhánh đường Nguyễn Biểu dài 175 m, nhánh Nguyễn Thị Tần dài 178,3 m; nhánh Hưng Phú dài 137 m. Tổng cộng chiều dài các nhánh là 490,3 m tính luôn đoạn cầu dẫn dài 913 m. Khu vực lồng cầu (ở giữa) có ba nhánh rộng 9 m, mỗi lề 0,7 m. Độ cao tĩnh không cách mặt nước là 6,3 m. Toàn bộ công trình khi xây dựng tiêu tốn 800 tấn thép và hơn 4.000 m3 bêtông.

Cầu được nhiều lần sửa chữa lớn vào các năm 1948, 1957, 1992. Ngày 30/9/2006, trong chương trình cải tạo về giao thông của thành phố, nhánh cầu chữ Y phía quận 5 được hạn chế xe để tháo dỡ và xây lại cầu mới để đảm bảo độ cao đi dưới đường Đại lộ Đông - Tây.

Cầu Bông (còn có tên là cầu Cao Miên)

< Câu Bông cũ trước khi được xây mới vào năm 2013.
Dulichgo
Theo cố nhà văn Sơn Nam, cầu Bông được xây dựng vào khoảng thế kỷ 18, có sách ghi năm 1736. Đây là một trong những cầu được xây dựng đầu tiên ở vùng đất Sài Gòn. Cầu này được làm bằng gỗ, nhỏ và ngắn nhưng khá nổi tiếng của đất Sài Gòn - Gia Định. Ban đầu cầu có tên là Cao Miên vì có một Phó vương Cao Miên lúc đó đang xin tá túc tại Bến Nghé, cho bắc qua sông để tiện việc đi lại (Sách Thành phố bất khuất do NXB TPHCM in năm 1984).

Về cái tên cầu Bông có nhiều giả thiết, nhưng giả thiết được nhiều nhà nghiên cứu vùng đất Sài Gòn nhắc đến nhiều nhất là sau khi Tả quân Lê Văn Duyệt xây dựng một vườn hoa gần cầu này thì dân gian bắt đầu gọi là cầu Hoa. Sau này, người dân phải đọc trại thành cầu Huê vì kiêng tên bà Hồ Thị Hoa là vợ vua Minh Mạng, mẹ vua Thiệu Trị (triều Nguyễn).

< Cầu Bông ngày nay.
Dulichgo
Sau cùng, người dân Sài Gòn đổi hẳn tên cây cầu này là cầu Bông (bông là hoa theo cách gọi của người miền Nam) cho đến nay.

Trải qua hơn 200 năm lịch sử, cầu Bông nhiều lần bị phá hủy, đánh sập nhưng nó vẫn được xây mới ngay tại vị trí cũ. Bởi đây là cây cầu huyết mạch nối liền hai vùng thị tứ của vùng đất Sài Gòn xưa kia. Trước 1975, cầu Bông được xem là trọng yếu nhất nối liền vùng Đakao của đô thành Sài Gòn với trung tâm tỉnh Gia Định (đóng tại khu vực chợ Bà Chiểu ngày nay.

Tháng 10/2013, cầu Bông xây dựng từ trước năm 1975 được tháo dỡ để xây dựng mới. Cầu Bông mới được thông xe vào tháng 6/2014 với độ tỉnh không được nâng cao thêm tạo thuận lợi cho các phương tiện đi trên đường Hoàng Sa và Trường Sa được lưu thông thông suốt dưới dạ cầu.

Cầu Nhị Thiên Đường

Là một trong nhưng cầu già cỗi nhất Sài Gòn, Nhị Thiên Đường dài khoảng 1 km được xây dựng từ năm 1925, bắc qua Kênh Đôi quận 8 của vùng Chợ Lớn. Cầu không chỉ có bề dày lịch sử, mà còn là cửa ngõ kết nối Chợ Lớn với các tỉnh miền Tây Nam Bộ, qua quốc lộ 50.
Dulichgo
Điểm đặc biệt của công trình là hàng cột xanh rêu trên cầu (tương tự sắc xanh của ô cửa sổ trong các biệt thự Pháp xưa cũ) và các mái vòm cong dưới chân cầu giống nhưng các cầu cổ nổi tiếng ở châu Âu. Ngoài ra, dù được xây trong thời đại hoàng kim của cầu sắt nhưng Nhị Thiên Đường lại ngoại lệ khi được thiết kế hoàn toàn bằng bêtông cốt thép.

Sau 90 năm, cầu được cho là đã bị xuống cấp nghiêm trọng, Sở GTVT TP HCM đề nghị chi khoảng 163 tỷ đồng để xây mới cầu với kiểu dáng, kết cấu tương tự cầu Nhị Thiên Đường 2. Vị trí cầu mới cần dịch chuyển về phía cầu cũ nhằm giảm chi phí bồi thường. Quá trình xây dựng sẽ có nghiên cứu thiết kế khôi phục (lan can, chiếu sáng, trang trí...) để gợi nhớ nét kiến trúc của cầu Nhị Thiên Đường hiện hữu.

Theo Hữu Nguyên (Vnexpress)
Du lịch, GO!
Thiếu nữ Mông trong trang phục du Xuân
(DTO) - Trang phục truyền thống là một nét văn hóa đặc sắc của người Mông Miền tây Nghệ An. Từ xa xưa, bộ trang phục truyền thống của người Mông ở Miền tây xứ Nghệ luôn được lưu giữ trong cộng đồng và được sử dụng trong các dịp Tết, lễ hội.

< Các em trông bộ trang phục xuống chợ ngày Xuân.

Phụ nữ Mông ở miền tây xứ Nghệ mặc các bộ trang phục truyền thống vào dịp năm mới hết sức bắt mắt, khác biệt so với các bộ trang phục khác của người Thái, Khơ Mú hoặc Ơ Đu…

Bộ quần áo truyền thống của họ bao gồm quần rộng màu đen (hu thiếc) và áo dài màu đen (lu chiếu chậm) với cổ áo được thêu đáp mảnh công phu.

< Nét đẹp mỹ miều trong bộ trang phục vui Xuân đón Tết của học sinh Mông.

Còn đối với trẻ em, học sinh ở bậc Tiểu học đến THPT thì bộ trang phục dành cho lễ hội, chơi Tết, vui xuân …rất đẹp, bắt mắt với bộ váy xúng xính với 3 loại màu chủ đạo như: áo khoác bên ngoài màu đen, áo trong màu trắng cùng chiếc váy ngắn trắng ngang đầu gối.

< Vẻ đẹp rạng rỡ của các em trong ngày du Xuân.
Dulichgo
Và loại màu thứ ba trang trí đẹp cho bộ áo váy là những chiếc túi thêu, chiếc khăn quấn quanh người màu đỏ, pha tím, xanh… nhằm làm cho bộ trang phục của thiếu nữ Mông trở nên sặc sỡ hơn.

Một cô gái hấp dẫn nhất khi cô đeo xung quanh hông thắt lưng thêu trang trí màu hồng sáng và màu xanh lá cây. Có thể đeo thêm trang sức là một sợi dây chuyền bạc lớn, những đồng xu...

Ví thêu trang trí, gọi là ví thuốc phiện và khăn xếp đội đầu (phu chong slua) cũng được mặc trong những dịp đặc biệt. Khăn này dài hơn mười mét lụa màu tím được giữ bằng một dải ruy băng sọc (chang).

Bên cạnh đó, cổ áo trong bộ trang phục của người Mông thể hiện sự khéo léo của bàn tay người phụ nữ. Người phụ nữ sử dụng một cặp nhỏ kéo sáng tạo ra hoa văn cầu kỳ từ miếng vải mỏng, sau đó với các đường khâu nhỏ xíu tỉ mỉ, đáp các miếng vải nhỏ thành một lớp thứ hai lên trên nền vải đã cắt.

< Ở Tri Lễ, hầu hết các em học sinh người Mông đều có bộ trang phục cho mình trong ngày Tết đã thu hút khách xin chụp ảnh chung.
Dulichgo
Sau đó, cô trang trí thêm vào đó. Thêu đáp mảnh và các họa tiết rất đa dạng với các hoa văn được sáng tạo từ cuộc sống hàng ngày.

Các họa tiết có thể là hoa đào, ốc, chim, dấu chân của gà, cái đòn gánh, và cối để giã gạo, cái cầu bằng tấm ván đôi hoặc đơn.

Những ngày lễ, Tết… có dịp gặp các thiếu nữ Mông mặc trên mình bộ trang phục đẹp nhất để du Xuân, chơi Tết đã để lại ấn tượng cho người xem.

Theo Nguyễn Duy (Dân Trí)
Du lịch, GO!
Kỳ quặc ăn Tết bằng... lá ngón
(GĐN) - Từ muôn đời nay, ai cũng biết lá ngón là một thứ cực độc. Chỉ cần vài lá nhỏ, đủ kết liễu một cuộc đời tươi đẹp. Ấy thế nhưng, có một nơi, người ta trồng lá ngón ngay trong vườn nhà để dùng như một món khoái khẩu. Chưa hết, loài lá có hoa nở trong mùa xuân này được coi là đặc sản trong mâm cỗ ngày Tết của họ, nếu không có món lá ngón thì coi như không có… Tết!

Lá ngón “làm sang” mâm cỗ

Trong chuyến đi công tác cuối năm về tỉnh Lai Châu, tôi được một người bạn học cũ mời về nhà chiêu đãi món… lá ngón. Vừa nghe tên, tôi đã giật thót bởi từ trước đến nay, mọi người đều biết lá ngón là một loại kịch độc gây chết người. Đoán biết sự hoang mang hiện rõ trên khuôn mặt tôi, anh bạn cười nắc nẻ, trấn an: “Đây là loại lá ngón ăn được, rất ngon là đằng khác. Với người Thái trắng bọn tớ, ngày lễ, ngày Tết mâm cỗ mà thiếu món lá ngón là mất sang”.

Câu chuyện của người bạn cũ khiến tôi đầy hoài nghi và tò mò. Như để chứng minh về loại lá ngón ăn được này, cậu bạn hứa sẽ đưa tôi về vùng đất Mường So - nơi mà người dân coi lá ngón là một món đặc sản.

5h sáng hôm sau, trong cái lạnh cuối năm, tôi và người bạn chạy xe máy về quê anh – một bản làng người Thái trắng - ở xã Mường So, huyện Phong Thổ, Lai Châu. Vượt qua những con đường ngoằn ngèo với cả trăm khúc cua, lại là vùng núi cao nên cả hai đều thấm mệt. Dù vậy, nghĩ đến món lá ngón ăn mà không chết do anh bạn kể, tôi vô cùng hào hứng.

< Bà Trần Thị Thái, 70 tuổi ở thôn Tây Nguyên, xã Mường So đang hái lá ngón để mang ra chợ bán.

Đến Mường So đúng phiên chợ sáng, tôi dạo quanh vài vòng chợ thì quả thật, có rất nhiều người chào mua… lá ngón. Thấy chúng tôi, người phụ nữ dân tộc Thái trắng nhanh miệng chào: “Các chú mua rau rừng đi, tươi ngon lắm. Hôm nay, có cả lá ngón, dịp Tết nên khan hiếm. Các chú mua nhiều về mà ăn dần”. Người phụ nữ này cũng cho biết, giá một bó lá ngón là 4.000 đồng, nấu canh được hai bữa, xào thì đầy một đĩa to.

Mang theo sự hoang mang chưa dứt, tôi tìm đến nhà già làng Lò Văn Bắc - Người nắm giữ lịch sử lâu đời của dân tộc Thái trắng cũng như những gốc tích của nền văn hóa vùng cao riêng biệt. Vừa nghe giới thiệu có nhà báo dưới xuôi lên thăm, già Bắc cười vui như “bắt được vàng”. “Ở đây, xa trung tâm nên cứ có khách đến thăm là chúng tôi rất vui. Lại có dịp được khoe món lá ngón ăn không chết người của đồng bào Thái trắng. Mà chỉ Mường So chúng tôi mới có loại lá ngón này thôi nhé”, già Bắc vừa cười, vừa nói.

Theo già Bắc, cây lá ngón không độc được phát hiện từ rất lâu. Không ai biết lâu bao nhiêu mà chỉ hay, từ đời cha ông, các cụ đã biết vào rừng hái loại lá này về nấu ăn. Loại lá này nấu ăn rất ngon, có mùi thơm đặc biệt nên nhà này truyền tai nhà khác kéo nhau vào rừng hái lá ngón. Về sau, người dân lấy thân cây lá ngón về trồng tại vườn để tiện ăn dần và đãi khách phương xa như một thứ đặc sản của người Thái trắng.

Ăn Tết phải có món lá ngón

< Lá ngón ăn được ở Mường So tròn và to hơn lá ngón có độc.

Những cây lá ngón ăn chết người mà chúng tôi từng chứng kiến trong rất nhiều vụ việc đau lòng ở vùng cao còn có tên là cây cỏ ngón, thuốc rút ruột. Đây là loại cây cực độc, lá dài, đầu lá nhọn hình lưỡi mác. Hoa của loại lá ngón độc này màu vàng, mọc thành chùm ở đầu ngọn và kẽ lá. Loại lá này độc đến mức một người chỉ cần ăn 3 lá là chất độc ngấm vào cơ thể và tử vong ngay sau ít phút. Thành thử, cứ nghe đến lá ngón là người dân vùng cao nói riêng và mọi miền nói chung sợ hãi.

Già Bắc kể, ngày trước, dân làng cũng từng mang hai loại lá ngón này ra so sánh với nhau. Cây lá ngón ăn được ở xã Mường So cũng có thân leo giống như cây lá ngón độc, có điều lá của nó tròn và ngắn hơn, bản lá thì như bàn tay. Sau một thời gian mang về trồng tại vườn, người dân phát hiện hoa của hai loại cây này cũng khác nhau.

Cây lá ngón độc thường nở hoa trong khoảng thời gian từ tháng 6 tới tháng 10, còn cây lá ngón ăn được lại nở hoa vào dịp gần Tết Nguyên đán. Từ đó, người Thái trắng ở Mường So bắt đầu dùng lá và hoa của cây này để luộc, nấu canh hoặc làm các món xào thay rau rừng. Những món ăn này dần trở nên phổ biến và quen thuộc trong những bữa cơm của dân bản. Trong lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu ngày Tết của người Thái trắng ở Mường So thì nhất định phải có món… lá ngón.

< Hoa và lá ngón sào tỏi – Món đặc sản của người Thái trắng.

Nói rồi ông Bắc mời chúng tôi ở lại ăn bữa cơm với món lá ngón xào hoa tỏi để biết mùi vị của loài cây cực lạ này. Ban đầu tôi cứ rờn rợn, sợ nhỡ ra ở cái chốn thâm sơn cùng cốc này thì biết làm sao… Vậy nhưng trước sự nhiệt tình của chủ nhà, lẫn lời đảm bảo ban đầu của anh bạn thân, tôi đành quyết định “đánh quả liều” để thưởng thức món đặc sản này. Bữa cơm rau lá ngón dọn lên trong nỗi hoang mang của tôi.

Gìn dứ một lúc, nhìn chủ nhà “ăn mẫu” mấy gắp, tôi mới dám đưa nhón lá ngón nhỏ vào miệng. Lạ kỳ, miếng rai lá ngón xào đầu tiên đã cho tôi cảm nhận mùi vị ngọt bùi như rau rừng nhưng lại thơm hơn. Lúc này thì tôi vừa ăn vừa nhâm nhi cái vị ngon khó tả của nó. Cùng với những chén rượu ngô nồng ấm, chúng tôi đã được ăn bữa cơm rất ngon, đặc biệt là hương vị không thể nào quên của món rau ngón rừng với gia đình già làng Bắc.

Trước khi chuẩn bị tạm biệt bản So, già Bắc giới thiệu chúng tôi sang nhà bà Trần Thị Thái (70 tuổi, thôn Tây Nguyên, xã Mường So) để mua vài bó lá ngón về xuôi làm quà. Dẫn chúng tôi ra vườn, vừa hái lá ngón bà Thái vừa giới thiệu: “Loại lá ngón này ăn ngon lắm, xào với thịt thì hết ý. Còn nếu xào với hoa đu đủ đực thì khắc chế được cả bệnh ung thư gan và điều trị bệnh gan nhiễm mỡ (?)”.

< Tại các chợ cóc ven đường, nhiều người dân bày bán lá ngón ăn được.

Bà Thái cũng cho biết, từ 7 năm trước, khi bà đi làm rừng phát hiện loại cây giống hệt cây lá ngón mà mọi người vẫn thường ăn nên lấy về trồng. Loại cây này ra lá quanh năm, đến mùa xuân thì nhiều hoa. Do nhà bà trồng nhiều nên mỗi buổi sáng bà thường hái khoảng chục bó mang ra chợ bán với giá 3.000 – 4.000 đồng/bó.

“Cứ mang ra bao nhiêu là hết bấy nhiêu. Nhiều hôm không còn lá ngón để mang ra chợ bán một số người thích ăn lại vào tận nhà tôi hỏi mua. Một số người đang dùng để chữa bệnh gan nhiễm mỡ thấy hiệu quả nên cứ gạ mua bằng được. Còn nếu dùng lá ngón để gói thịt chua thì rất hợp và dậy mùi. Ngày Tết, nhà nào mà có vườn cây lá ngón để đãi khách là nhất Mường So đấy”, bà Thái chia sẻ.

Theo lời bà Thái, đặc biệt nhất, trong lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu (lễ hội ẩm thực) của người Thái Mường So ngày xuân thì chắc chắn phải có lá ngón. Đây là dịp để người dân tạ ơn thần linh, ông bà, tổ tiên đã ban phúc cho một vụ mùa bội thu. Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu được tổ chức tại bản Huổi Én, xã Mường So với cuộc thi nấu ăn của người Thái. Các món ăn được người Thái kết hợp với các loại gia vị lấy trong rừng như: Mắc khén (hay còn gọi là hạt tiêu rừng), thảo quả… Những loại gia vị này được tẩm ướp cùng với thực phẩm tạo nên hương vị đặc trưng trong các món ăn của núi rừng Tây Bắc nói chung và người Thái trắng nói riêng.

Miền gái đẹp

Không chỉ nổi tiếng với món lá ngón ăn được, Mường So còn nức danh là miền gái đẹp. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo từng viết những dòng cảm xúc khi đến thăm: “Nơi hoa bản nở thành người con gái Thái”. Không ít khách phương xa đã không thể cầm lòng được với những “bông hoa rừng hoang sơ” toát ra từ các thiếu nữ Thái ở vùng này. Không biết thế giới có những cuộc thi hoa hậu từ khi nào và cuộc thi hoa hậu Việt Nam chính thức tổ chức lần đầu tiên ở đâu, nhưng những cô gái Thái ở Mường So đã thi sắc đẹp từ rất lâu. Mỗi năm, số người nhận “vương miện” ngày càng nhiều. Áp lực cuộc sống không nhiều cộng với tinh thần văn hóa đầy đủ làm cho con người nơi đây luôn tươi trẻ.

Chưa biết tên khoa học

Trao đổi với PV báo GĐ&XH, ông Nguyễn Thế Hải, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu cho biết: “Đúng là ở Mường So người dân thường ăn một loại lá trông giống hệt lá ngón nhưng to hơn một chút. Ở các cuộc thi ẩm thực vùng miền, người Thái trắng cũng coi món lá ngón như một món đặc sản. Đến nay, chúng tôi cũng chưa biết chính xác tên khoa học của loài lá này là gì, chỉ biết rằng loại lá này ăn rất ngon và không độc. Đặc biệt, nghe bà con nói thì món lá ngón này còn ngăn chặn được những bệnh hiểm nghèo như ung thư, gan nhiễm mỡ...”.

Theo Giadinh.net
Du lịch, GO!
Dọc đường gió bụi trên đất Lào
(Giải trí) - Luang Prabang, Vieng Chăn, Sa Vẳn… các thành phố lớn của Lào đều trải mình bên bờ sông Mekong. Đã xa rồi Lào ơi, song vẫn nhớ một đất nước yên bình và con sông mẹ Mekong mang phù sa về với đất Việt.

< That Luong o Viêng Chăn.

+ Luang Prabang - Cố đô thanh bình

Chiếc máy bay ATR 72 của Vietnam Airlines đầy khách đưa chúng tôi từ sân bay Nội Bài đáp xuống Luang Prabang lúc 11 giờ trưa. Trái hẳn với khí hậu ở Việt Nam, tháng này ở Lào nắng và nóng, chúng tôi cởi vội áo khoác và áo len rồi xuống máy bay.

Sau khi đổi một ít tiền kíp, chúng tôi đáp xe taxi về trung tâm thành phố. Khách nước ngoài đến Luang Prabang khá đông, việc tìm một chỗ trú ngụ khá vất vả.

Biết chúng tôi từ Việt Nam sang, bác tài chở đến nhà trọ của một gia đình Việt kiều ở Lào, nhờ đó việc tìm chỗ ở cũng thu xếp nhanh chóng. Cảm thấy có chút may mắn vì mùa này khách du lịch rất nhiều nên tìm phòng trọ mấy ngày không dễ. Giá phòng cũng mềm: 120.000 kip một đêm (1 kip Lào = 2,7 đồng).

< Tháp Dưa hấu trước chùa Visoun ở Luang Prabang.

Ở Luang Prabang hơn 2 ngày, chúng tôi được dịp đi thăm nhiều thắng cảnh cố đô Lào. Luang Prabang được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1997. Đến đây ngoài việc đi thăm chùa chiền, di tích và một số hoạt động văn hoá tại khu trung tâm, khách còn có thể tham quan một số điểm thiên nhiên kỳ thú như thác Kuangsi hùng vĩ cách thành phố khoảng 25 km về phía Nam hay động Pak Ou kỳ bí ở phía Bắc.

Đến Lào không thể không nhắc đến chùa, vì đây là một đất nước sùng đạo Phật. Tại Luang Prabang có nhiều ngôi chùa cổ nổi tiếng như chùa Vat Mai (thế kỷ XVIII), chùa Vat Xieng Thong do vua Setthathirat xây năm 1560, chùa Vat Visoun xây năm 1515 (được xây lại vào năm 1898) và hàng chục ngôi chùa khác nằm trên tất cả các con phố ở cố đô.

Lúc 17g chiều, ghé vào chùa Ho Xieng toạ lạc trên một khu đất rộng rãi dọc phố Chao Fa Ngum, chúng tôi lặng nghe tiếng tụng kinh của mấy chục nhà sư trẻ dưới 20 tuổi. Trong ánh nắng chiều nhạt, nhiều du khách Tây cũng lạc bước đến đây, dừng chân ngoài hành lang hoặc ngồi trước sân chùa lắng nghe những lời Phật dạy.

< Chùa Vat Xieng Thong ở Luang Prabang đang được trùng tu.

Chùa ở Lào không thắp hương, thay vào đó người ta dâng hoa vạn thọ màu hồng hay màu đỏ quấn bằng lá chuối xếp thành những tháp nhỏ với vật phẩm để cúng là xôi được vo thành những viên nhỏ.
Dulichgo
Ngay ở trung tâm Luang Prabang là núi thiêng Phousi. Trên đỉnh núi là tháp That Chomsi cao 20m. Để lên đến đỉnh, bạn phải leo 328 bậc con đường lát đá. Đứng trên đỉnh núi có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố Luang Prabang và khu vực chung quanh cũng như ngã ba sông Khan chảy vào sông Mekong.

Phía chân núi Phousi về hướng Mekong là hoàng cung dành cho vua Sisavangvong được xây dựng vào năm 1904. Bây giờ khu này được dùng làm bảo tàng quốc gia với nhiều tượng Phật cổ, trống đồng, ngà voi và nhiều hiện vật cổ.

Sau một ngày thăm thú khắp nơi trong thành phố, khách có thể ghé chợ đêm trên đường Sisavangvong nơi bày bán các loại hàng thổ cẩm và các vật dụng mà khách có thể chọn mua để kỷ niệm chuyến đi.

< Chợ đêm ở Luang Prabang.

Chợ là những tấm bạt màu đỏ được dựng lên lúc 5g chiều và sẽ được dọn đi lúc 22g đêm. Khách thong thả dạo bước từ hàng này qua hàng khác mà không bị chèo kéo. Ở chợ nói thách cũng nhiều, được cái là bạn có thể xem hàng và trả giá thoải mái rồi không mua mà không sợ bị chủ hàng mắng mỏ.

Trên một con đường nhỏ cắt ngang chợ đêm bán đồ lưu niệm là khu bán thức ăn tối. Nhìn chung thức ăn đồ uống của Lào khá đắt. Chọn một con gà quê và một con cá rô phi sông Mekong nướng vàng ươm, mua một ít xôi đồ và kiếm chai bia Lào, chúng tôi ngồi ở một cái bàn được đặt trong chợ cùng với rất nhiều khách Tây ăn uống ngon lành trước khi trở về nhà trọ trên chiếc tuk tuk lúc 10 giờ tối.

Thành phố về đêm rất tĩnh lặng. Mặc dù du khách đến đây tăng lên hàng năm, hạ tầng đang phát triển nhưng bầu không khí thanh bình và dịu dàng vẫn giữ nguyên được nét đặc trưng Lào.

Sáng hôm sau, trước khi đi xe xuống Vang Viêng, 5 giờ sáng chúng tôi ra phố xem các nhà sư đi khất thực. Nhiều người dân Lào cũng dậy sớm nấu xôi và chờ sẵn trước nhà để bỏ vào bình bát của các sư đi qua các phố. Tại khu dành cho khách du lịch, có một số người dân chuẩn bị xôi và chiếu để du khách thực hiện nghi lễ cúng dường với một mức phí chấp nhận được.

< Kết hoa dâng Phật.

Với những đặc thù riêng hiếm có cũng như cuộc sống yên bình thanh thản, nhiều du khách phương Tây đã dừng chân tại Luang Prabang hàng tuần, thậm chí nhiều tuần để nghỉ ngơi và thư giãn.

+ Viêng Chăn - Thủ đô duyên dáng

Điểm đến tiếp theo của chuyến đi là Viêng Chăn. Viêng Chăn còn có tên gọi cổ là thành phố của gỗ đàn hương (The city of santal), hay một tên khác là thành phố mặt trăng (The city of the moon).
Dulichgo
Thủ đô của Lào thật kỳ lạ, với 600 ngàn dân, Viêng Chăn là thành phố lớn nhất của Lào nhưng vẫn giữ được nét duyên dáng và những tiện nghi của một thành phố nhỏ. Xe ô tô trên đường không bóp còi, tiếng còi được hiểu là có sự cố và xe ô tô luôn nhường đường cho người đi bộ.

Cũng như mọi thành phố khác, Viêng Chăn có nhiều chùa lớn ở khu trung tâm. Chỉ cần đi bộ dọc đường Setthathirath, du khách có thể được xem nhiều chùa to như chùa Ing Hang, Ong Teu, Miaxay..., nhưng lớn và cổ nhất vẫn là chùa Sisaket và Ho Pra Keo.

Chùa Sisaket nằm ở góc đại lộ Lane Xang và đường Setthathirath, được xây dựng từ năm 1818 đến 1824 là chùa cổ nhất còn lại đến ngày nay. Nét độc đáo của ngôi chùa này là trong chùa có đến 6.840 pho tượng Phật. Theo truyền thống địa phương, chùa Sisaket là nơi giới quý tộc Lào đến để thề nguyện trung thành với nhà vua.

< Patuxay (Khải hoàn môn) ở Viêng Chăn.

Chùa Ho Phra Keo nằm đối diện chùa Sisaket và được vua Setthathirath xây dựng vào năm 1565 để làm nơi đặt tượng Phật Ngọc, vì thế Ho Pra Keo được gọi là chùa Phật Ngọc và là ngôi chùa dành riêng cho giới quý tộc Lào. Hiện nay tượng Phật Ngọc này được trưng bày tại chùa Vat Pra Keo ở Bangkok.

Một điểm tham quan được tất cả du khách đến là Patuxay, một đài tưởng niệm trên đại lộ Lane Xang. Từ xa, Patuxay giống Khải hoàn môn Paris, nhưng đến gần thì các dấu ấn kiến trúc Lào trông rất rõ nét.

Mua vé 5.000 kip trèo lên đỉnh tháp, chúng tôi cảm nhận làn gió mát trong buổi sáng ở thủ đô và thoải mái phóng tầm mắt quan sát toàn thành phố Viêng Chăn về cả 4 hướng.

Từ Patuxay đi tiếp khoảng hơn 1 km sẽ đến That Luong, một loại kiến trúc đặc trưng của Lào, nơi tương truyền rằng còn lưu giữ nắm tóc của Đức Phật.

+ Mukdahan - Sa Vẳn - Đà Nẵng: qua 3 nước trong một ngày

< Tượng Phật trong chùa Sisaket ở Viêng Chăn.

Từ Viêng Chăn đáp xe buýt đêm đi Sa Vẳn, xe chạy khá nhanh nên khoảng 4 giờ sáng xe đã đến nơi. Sau khi lên xe tuk tuk vào trung tâm thành phố tìm chỗ ở, chúng tôi lên chuyến xe buýt sớm nhất lúc 8g30 qua cầu Hữu Nghị sang Mukdahan của Thái Lan bên kia sông Mekong.

Tôi đã có lần đến Mukdahan cách đây khoảng 11 năm, nay có dịp quay trở lại, thấy thành phố này vẫn không có nhiều thay đổi. Trong khi hơn chục năm qua, Đà Nẵng đã có nhiều thay đổi khác trước, vươn lên mạnh mẽ trong xây dựng và phát triển.

Trước đây qua Mukdahan phải đi phà, nay có cây cầu Hữu Nghị nối liền 2 bờ sông Mekong trên tuyến Hành lang Kinh tế Đông Tây, nên việc đi lại thuận tiện hơn nhiều. Hàng ngày rất nhiều chuyến xe buýt đưa người Lào (và cả người Việt) qua Mukdahan và người Thái đã bán được nhiều hàng hoá và thực phẩm cho người Lào nhờ có cây cầu này.
Dulichgo
Từ Sa Vẳn, hàng ngày có xe về Việt Nam. Tuy là xe tuyến quốc tế nhưng trong xe cũng chất lỉnh kỉnh hàng hoá dọc lối đi giữa xe, lại thêm nhiều ghế nhựa dành cho khách bắt thêm dọc đường, chẳng khác gì xe đò chạy tại Việt Nam. Quốc lộ 9 phần bên Lào tuy mới được tu bổ nâng cấp nhưng nhiều đoạn đã hư hỏng trở lại.

< Thuyền trên sông Mêkông ở Luang Prabang.

Làm thủ tục xuất nhập cảnh tại cửa khẩu Đen Sa Vẳn - Lao Bảo mất 2 giờ. Cảnh những người Việt và người Lào chen lấn tranh nhau làm mấy anh chàng Tây ngao ngán. So với cửa khẩu từ Sa Vẳn qua Thái, lượng khách cũng rất đông đúc, việc làm thủ tục được công an cửa khẩu hướng dẫn nghiêm và diễn ra trật tự hơn.

Do mất nhiều thời gian làm thủ tục nên hơn 7 giờ tối xe mới đến Huế. Xuống xe, chúng tôi tranh thủ đón taxi về Đà Nẵng, kết thúc chuyến đi 8 ngày 7 đêm đến đất nước Lào.

Tuy đi nhiều ngày cũng có chút mệt mỏi nhưng chuyến đi vui và bổ ích, cho thêm hiểu biết về một miền đất mới. Trưa ở cửa khẩu Đen Sa Vẳn, ăn cơm ở một quán ăn do người Việt nấu tại vùng biên giới, chỉ một chút dưa cải muối, rau xào và ít thịt gà ướp và nấu theo hương vị Việt Nam, thấy sao mà ngon thế. Chỉ có thế, mà khi quay về lại thấy yêu mến đất nước mình nhiều hơn...

Theo Nguyễn Hai (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!
Tản mạn mấy ngày xuân...
Mồng 5, vậy là một mùa tết đã qua; qua nhanh như mọi lần và còn nhanh hơn khi tết này không có ngày 30.

Trẻ con ham tết lắm: tết được nghỉ học, được tiền lì xì, được đi chơi - đàn đúm thoải mái. Vậy như với các lão sồn, tết là một cái gì đó khiến ta thêm... già!

Tết, mình chỉ thích nhất là... có quyền đóng hay mở cửa tiệm thoải mái, có đóng để làm một giấc cũng chả ai dám gõ cửa quấy rầy! Phần còn lại, tết là những ngày nhìn quanh thấy gì cũng... mắc mỏ.

Đi chơi tết à? giá phòng ở trên trời, mọi dịch vụ ăn uống đều 'nổi trội' đến mức không ngờ so với ngày thường! 

Bạn không tin à? Lật báo mà xem: Đà Lạt đặc keng người, đến nỗi 12h đêm - khách du lịch vẫn còn lang thang ngoài đường trong cái rét căm căm vì không có phòng lưu trú dù các khách sạn đã tăng giá thành tiền triệu! Tội nghiệp người ta, nếu như mình thì ta sẽ quay về Bảo Lộc, Liên Khương... tức là các vùng lân cận là chắc chắn có nhà nghỉ, giá cả lại 'ở dưới đất'.

Không đi thì ở nhà, chạy loanh quanh. Vậy mà vẫn thấy cái điệp khúc 'tết mà'! Tô phở bình thường giá 25 đến 30k thì giá tết là 35k. Tô bánh canh bình dân gần nhà giá 18k thì tết lên 25k, cơm sườn 20k thì tết thành 30k, bánh cuốn 20 thì tết cũng biết nhảy lên 25k... khiến chúng sinh ta quen thói chấp nhận xem ra là điều bình thường - chuyện nhỏ như con thỏ.

Mẻ! mình thì thấy chả thể quen được, tiệm nhà bán cái bóng trái ớt giá 2k thì tết vẫn vậy, bóng 1.2m Điện Quang vẫn 13k, bộ chớp LED 18 đến 20k, tranfaut điện tử Rạng Đông 28k... Nói chúng thì hoàn toàn không có thứ gì tăng lên một đồng cắc nào cả dù ngay trong ngày 29, ngày mồng 1, 2, 3... trong khi các tiệm khác sẳn sàng nhảy lên một, hai hoặc ba giá!

Vậy nên có nhiều khách đến mua nhận xét rằng: 'Tiệm anh bán giá ổn định và rẻ nhất trong quận này, thật đó'. Nghe vui vui vì ta biết rằng mình bán mềm giá, biết thêm rất nhiều khách mới (do các tiệm khác đóng cửa hết, mãi đến mồng 8) nhưng chưa chắc là có thêm được nguồn khách mới. Lý do đơn giản là nhiều khi món hàng ngay cạnh nhà, ngay đầu hẻm nên họ mua luôn cho nó tiện dù biết rằng mua mắc hơn đôi chút. Ấy vậy nên các nơi họ vẫn mài dao xắt đẹp: tết mà!

Có điều này cần 'khen' tết: sáng sớm mồng 1 thưa người ngoài đường, không xe công, xe tải. Không còi inh ỏi, không kẹt xe, những hàng ghế công viên thưa vắng - tha hồ cho ta ngắm trời đất trong cái se lạnh rồi chạy lơn tơn giữa con đường vắng thênh thang, chuyện mà ngày thường có lẽ hiếm!

Nay tấp vào hàng phở này, mai hàng kia, mốt hàng nọ rồi so sánh: phở này nước lèo đậm đà hơn phở kia, những lát thịt nhai phê hơn phở nọ, vân vân và vân vân.

Vẫn còn rất nhiều chuyện để tán phét nhưng bây giờ bận rồi.
Du lịch với mình thì có thể, nhưng sẽ phải chờ đến hết mùng, tức là hết dịp chặt chém vô lý cái đã. Không đi xa xôi gì, chỉ gần thôi: đến với cái xứ biển mà gần 30 năm nay bọn mình đã đưa vào quên lãng vì nó từng nổi tiếng chặt chém - Vũng Tàu đó mà, đến nơi này không theo kiểu 'người ta' mà theo kiểu của chính bọn mình!

Happy New Year, chúc bà con một năm mới yên bình.

Điền Gia Dũng
Du lịch, GO!
Nét tinh tế, dịu dàng mang tên “Huế”
(QHO) - Có lẽ, Huế là thành phố duy nhất vẫn giữ nét đẹp cổ xưa trầm mặc, yên ả, nhẹ nhàng giữa sự phát triển xô bồ của xã hội hiện đại. Đến với Huế giống như đến với một thế giới riêng tách biệt với cuộc sống công nghiệp ồn ào bên ngoài, giống như tìm về một góc khuất của tâm hồn, bình yên và nhẹ nhõm…
Huế giống như người con gái đương độ trăng tròn, e ấp, yêu kiều với chất thơ lắng dịu, hồn hậu tỏa ra từ dòng Hương Giang êm đềm, thơ mộng nhưng vẫn tỏa ra nét đẹp cổ điển của những lâu đài, thành quách u hoài cổ tịch. Không phải tự nhiên mà Huế đã trở thành “nàng thơ” của biết bao trái tim người nghệ sĩ:
“Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được
Nét dịu dàng pha lẫn trầm tư”.

Cho đến tận bây giờ, Huế vẫn ôm ấp, nâng niu, giữ gìn những bản sắc, giá trị lịch sử, văn hóa đã trở thành niềm tự hào của người dân xứ Huế nói riêng và người Việt nói chung.

Trong suốt gần 400 năm lịch sử, từ năm 1636, Huế đã trở thành thủ phủ - trung tâm kinh tế-chính trị-văn hóa của 9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, kinh đô của triều đại Tây Sơn và cũng là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất dưới sự trị vì của 13 đời vua nhà Nguyễn.

Ngày nay, Cố đô Huế vẫn khẳng định vị thế cố đô xưa khi mang trong mình những tinh hoa văn hóa, kiến trúc dân tộc với những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của nhân loại. Không phải bỗng nhiên mà khi nhắc tới Huế, người ta thường nghĩ ngay đến những công trình thành quách, cung điện nguy nga, đền đài miếu vũ lộng lẫy, lăng tẩm uy nghiêm bên cạnh nét u tịch trầm mặc nhưng đầy thơ mộng của những thắng cảnh thiên tạo. Nhưng Huế nào chỉ có những công trình kiến trúc khiến người đời sau phải trầm trồ, những thành tựu về văn hóa như Nhã nhạc cung đình hay tinh hoa ẩm thực Huế cũng đang dần khẳng định giá trị của mình trong tinh hoa văn hóa dân tộc.
Dulichgo
Tinh hoa kiến trúc Cố đô

Nằm giữa lòng thành phố, một biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền nhà Nguyễn vẫn sừng sững, uy nghi giữa biết bao biến cố lịch sử và biến động thời gian. Đó là Đại Nội Huế - biểu tượng cho thành tựu kiến trúc của triều đại nhà Nguyễn. Được xây dựng đầu thế kỉ 19, trên một mặt bằng diện tích hơn 500 ha, Đại Nội được chia thành hai phần chính là Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực cho sự kết hợp hài hòa tinh tế giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây.

Hoàng thành được giới hạn bởi một vòng tường xấp xỉ 600 m với 4 cổng ngự ở 4 hướng: Cổng chính Ngọ Môn (cổng Nam), Hiển Nhơn (cổng Đông), Chương Đức (cổng Tây) và Hòa Bình (cổng Bắc). Tường thành xây bằng gạch to, cao 4 m, dày 1 m, được bao quanh bên ngoài bởi hào nước với 10 chiếc cầu bắc qua. Bên trong Hoàng Thành chính là Tử Cấm Thành, nơi sinh hoạt của vua chúa và con cháu hoàng tộc. Khi mới xây dựng, Đại Nội có hơn 100 công trình kiến trúc lớn nhỏ, nhưng trải qua thời gian cùng sự tàn phá của 2 cuộc chiến tranh, số công trình nguyên vẹn còn lại chưa đầy một nửa nhưng vẫn sừng sững vẻ uy nghi quyền thế của một triều đại phong kiến trong lịch sử dân tộc.
Dulichgo
Nằm ở ngoại thành về phía Tây, hệ thống lăng tẩm được coi là trung tâm quyền lực, biểu tượng cho quyền uy vua chúa nhà Nguyễn, cũng là thành tựu của nền kiến trúc bậc nhất thời kì nhà Nguyễn. Bất cứ vị vua nào cũng đều tâm niệm rằng “thứ nhất dương cơ, thứ nhì âm phần” nên khi mới đăng cơ kế vị, việc đầu tiên chính là xây lăng tẩm cho chính mình. Lăng vua không chỉ là nơi yên nghỉ của đế vương, mà còn là nơi cảnh vật non nước hữu tình cho chủ nhân thưởng ngoạn khi còn sống. Huế có tất cả 7 lăng tẩm, mỗi lăng lại thể hiện một tính cách, một đặc điểm riêng biệt của mỗi vị vua thời nhà Nguyễn.

Nếu như Lăng vua Minh Mạng uy nghi bình chỉnh, đăng đối giữa rừng núi hồ ao được tôn tạo khéo léo thể hiện hùng tâm đại chí của một chính trị gia kiệt xuất, thì Lăng Gia Long lại là sự kết hợp giữa vẻ đẹp mộc mạc nhưng không kém phần tráng lệ giữa núi rừng trùng điệp, hừng hực khí thế của một chiến tướng trải qua trăm trận sinh tử. Nếu Lăng Tự Đức thơ mộng, trữ tình với khung cảnh tựa bức tranh thủy mặc gợi đến tâm hồn thi vị nhưng có phần yếu ớt của một thi nhân thì Lăng Thiệu Trị lại thâm nghiêm và yên tĩnh đến u tịch.

Bên cạnh những công trình kiến trúc là biểu tượng sừng sững cho triều đại nhà Nguyễn, Huế còn gìn giữ những thành tựu kiến trúc thể hiện đời sống văn hóa của nhân dân trong suốt quá trình phát triển. Điện Hòn Chén hay Chùa Thiên Mụ tuy là công trình phục vụ tôn giáo nhưng đã trở thành niềm tự hào về kiến trúc văn hóa của người dân xứ Huế xưa và nay. Điện Hòn Chén được xây dựng từ thế kỷ 16, tọa lạc trên núi Ngọc Trản, là đền thờ Thánh mẫu Thiên Y Ana. Hòa cùng khung cảnh thiên nhiên hữu tình của non nước xứ Huế, điện Hòn Chén đã trở thành một danh lam mà bất cứ du khách nào đến Huế cũng muốn một lần đặt chân đến.

Chùa Thiên Mụ được xây dựng bởi chúa Nguyễn Hoàng vào năm 1601 trên đồi Hà Khê, là một trong những ngôi chùa cổ nhất còn tồn tại ở đây. Đến thăm chùa Thiên Mụ, không ai là không khỏi trầm trồ trước vẻ đẹp tráng lệ của tháp Phước Duyên - biểu tượng của chùa, cao 21 m gồm 7 tầng, bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng. Chùa Thiên Mụ không chỉ là ngôi chùa linh thiêng mà còn là một thắng cảnh non nước thơ mộng thu hút du khách thập phương đến vãn cảnh chùa.

Nhã nhạc cung đình Huế

Nhã nhạc là loại hình âm nhạc cung đình, là nhạc chính thống của triều đình được dùng ở các cuộc lễ tế giao, các dịp triều hội, là sự kết hợp giữa Lễ và Nhạc. Không phải đến triều đình nhà Nguyễn Nhã nhạc mới ra đời, mà có thể nói, có triều đình phong kiến là có Nhã nhạc. Nhưng phải đến triều đại Lý Trần, Nhã nhạc mới hình thành và có sự phát triển rõ rệt. Đến thời kỳ nhà Nguyễn, Nhã nhạc đạt đến đỉnh cao với những thành tựu, nhạc phẩm được cất giữ và lưu truyền cho đến ngày nay. Sử sách nhà Nguyễn ghi lại có đến 12 cuộc lễ, mỗi cuộc lễ đều ghi đầy đủ các bài ca chương và có 126 bài ca chương ghi đầy đủ lời ca nguyên gốc và bản dịch.Dulichgo

Phần nhạc khí gồm 6 dàn nhạc: Nhã nhạc, Nhạc huyền (bộ nhạc treo), Đại nhạc (cổ xúy đại nhạc), Tiểu nhạc (Ti trúc tế nhạc), Ty chung và Ty khánh (dàn nhạc chuông và khánh đá), Quân nhạc (đội bả lệnh). Các dàn nhạc trên đều có các nhạc khí cụ thể và không dưới 30 chủng loại với số lượng hàng trăm nhạc khí. Chỉ có những nhạc công, ca công và vũ công tài ba nhất của đất nước được tuyển chọn để diễn Nhã nhạc cung đình. Nhã nhạc ra đời là sự kết hợp kì diệu với đại lễ cung đình, trở thành tiếng nói kì diệu có khả năng giao cảm với thần linh, đất trời, đồng thời cũng mang giá trị chính trị lớn lao.

Ngày nay, dàn nhạc, ca chương, vũ khúc của Nhã nhạc có thể sử dụng ở các hình thức diễn xướng khác nhau trong các dịp như: Festival Huế, lễ hội dân gian, lễ hội Phật giáo, trong các nghi thức ngoại giao và đặc biệt biểu diễn phục vụ khách du lịch. Có lẽ ta vẫn chưa thể nói đã đến Huế khi chưa một lần đắm mình trong những làn điệu trầm bổng thanh thoát, lễ nghi trang trọng, những câu hò Nam ai, Nam bình sâu lắng đất cố đô của một di sản văn hóa âm nhạc “cổ điển bác học Việt Nam” trên dòng Hương giang êm đềm thơ mộng.

Tháng 12/2003, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Nhã nhạc cung đình Huế là di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Với sự công nhận này, Nhã nhạc đã trở thành niềm tự hào của dân tộc Việt Nam trước bạn bè thế giới khi sở hữu một di sản nghệ thuật mà ít quốc gia có được và lưu truyền đến ngày nay. Giá trị lớn lao ấy đã trường tồn cùng dân tộc trong mấy trăm năm lịch sử và giờ đây, giá trị ngày càng được khẳng định khi nó được cả nhân loại tôn vinh.

Tinh tế ẩm thực xứ Huế
Dulichgo
Không đa dạng như lối ẩm thực miền Bắc, không phồn thực như ẩm thực phía Nam, ẩm thực Huế mang một chiều sâu riêng giản dị, mộc mạc mà cũng rất tinh tế, xa hoa. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, ẩm thực Huế được tạo nên từ ba loại chính: các món chay, ngự viện và dân dã.

Trong cung đình, người ta tổ chức mỗi bữa ăn thành một “phương thang” để vừa bổ dưỡng, vừa chữa bệnh. Sử sách chép lại rằng, việc tổ chức món ăn được quy định rõ ràng cho từng loại tiệc như tiệc tiếp sứ bộ có ba loại: loại một mâm gồm 50 món, loại 7 mâm gồm 40 món, loại 25 mâm gồm 30 món… Những món ấy được trình bày tỉ mỉ, khéo léo trong 1080 bát, đĩa chỉ dùng trong vương phủ. Các món ngự viện đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo, đạt độ cân bằng về dinh dưỡng, độ tinh tế, thanh nhã nhưng không kém phần đậm đà của mùi vị.

Bên cạnh ngự viện, các món chay cũng trở thành đỉnh cao của nền ẩm thực Huế. Từ những nguyên liệu thực vật đơn giản, kiêng kị động vật, qua bàn tay tài hoa của đầu bếp, những món chay trở thành chả quế, nem cuốn, thịt heo quay… mà nếu không phải dân sành ăn chưa chắc đã nhận ra sự khác biệt. Huế từng là trung tâm của Phật giáo dưới triều Nguyễn. Các chúa Nguyễn lấy Phật giáo làm Quốc giáo và cả hoàng tộc đều theo đạo Phật. Không chỉ có nhà chùa ăn chay mà ngay cả tầng lớp quý tộc và các gia đình Phật tử cũng ăn chay ít nhất 2 lần mỗi tháng. Bởi thế mà thực đơn món chay ở Huế vô cùng phong phú và đạt đến độ tinh tế, tài hoa.

Nhưng có lẽ, ẩm thực Huế thu hút nhất lại là ở sự mộc mạc, giản dị nhưng đầy tinh tế của những món ăn dân gian. Món ăn Huế tuy bình dị nhưng lại mang hương vị thơm ngon đằm thắm của sản phẩm nơi đồng ruộng, núi sông. Bất cứ ai đến với Huế đều khó có thể chối từ những chiếc bánh bèo nhỏ xíu như chực tan nơi đầu lưỡi, những lá bánh nậm mỏng tang hay tô bánh canh Nam Phổ được bày biện như một bức tranh nghệ thuật, để rồi hương vị Huế cứ ngấm dần, lan tỏa dần và cuối cùng đọng lại trong tâm trí không thể quên.
Dulichgo
Ngày nay, phong cách nấu ăn Huế đã trở thành một trong những giá trị của ẩm thực Việt khi cả nước có trên 3 000 món ăn thì đến 1700 món nấu theo kiểu Huế. Giờ đây, người ta không cần đến Huế mới thưởng thức được món Huế và hương vị Huế đã có mặt ở hầu khắp 3 miền: Bắc, Trung, Nam. Điều này chính là minh chứng rõ ràng nhất cho giá trị và sức hút của ẩm thực cố đô. Nhưng dù thế nào, được ăn món Huế do chính tay người Huế chế biến, được thưởng thức món Huế trong khung cảnh hữu tình của Huế, ta mới có thể “thấm” cái hương, cái vị tinh tế của món ăn nơi đây – một trải nghiệm khó lòng tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác.

Có thể nói, hiếm có nơi đâu mọi yếu tố để phát triển du lịch lại hội tụ đầy đủ như ở mảnh đất Cố đô. Khung cảnh thiên tạo đẹp đến mê lòng, công trình nhân tạo nguy nga, tráng lệ, là đỉnh cao của nền kiến trúc Việt thời phong kiến làm du khách từ phương xa tới nơi đây không khỏi xao động. Cùng với quần thể di tích Cố đô, Huế cũng là nơi duy nhất ở nước ta còn lưu giữ được loại hình âm nhạc truyền thống Nhã nhạc cung đình Huế, một kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Phát huy lợi thế ấy, thành phố của những di sản và lễ hội đã có những bước quy hoạch và phát triển du lịch toàn diện, bền vững, trở thành trung tâm văn hóa, du lịch lớn của cả nước, đưa Huế trở thành tâm điểm thu hút số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước.

Theo Thanh Trúc (Quê Hương online)
Du lịch, GO!
Có một mùa hoa đỗ mai đang về
Những ngày này, chạy xe từ Đà Lạt về Sài Gòn, đã thấy những cây hoa đỗ mai trụi lá bên nhiều hiên nhà, vệ đường gần đèo Bảo Lộc lấm tấm đầy nụ. Lại nhớ những con đường hoa đỗ mai ở Bà Rịa-Vũng Tàu.

< Đỗ mai chào đón mùa xuân trên núi Vũng Tàu.

Lại nhớ những ghi chú trong sách đỗ mai, đỗ đào, đào đậu hay còn hay còn gọi là cây cọc rào (vì trồng làm hàng rào), hồng mai, anh đào giả, sát thủ đốm (vỏ cây ngâm nước làm thuốc diệt chuột).

< Hoa đỗ mai chụp gần.

Cây Gliricidia maculata thuộc họ đậu (Fabaceae) có từ rừng tự nhiên châu Mỹ, đến Việt Nam theo con đường thực dân của người Pháp. Như nhiều loài cây khác, cuối đông là mùa của đỗ mai trụi lá để xuân đến trổ hoa và lá non.
Dulichgo
Mùa hoa tùy theo thời tiết từng vùng mà kéo dài đến 1 - 2 tháng. Hoa có thể có các màu hồng sậm, hồng phớt và trắng, chùm thưa hay chùm dày.

< Hoa đỗ mai chụp tại Bảo Lộc.

Xa xưa, mỗi khi xuân về, dân di cư miền Bắc ở vùng Bảo Lộc lại ra rào bụi, cắt đỗ mai cắm cành vào lọ bình để chưng thay cho hoa đào. Nhưng cành hoa coi đẹp vậy mà khi rời cây lại rất mau tàn nên không được ưa thích nữa. Rồi có tin đây là loài hoa độc nên có lúc đã bị chặt, đốt bỏ.

Nhiều năm sau đó, đỗ mai âm thầm từ vùng núi Tây nguyên (Gia Lai, Kom Tum, Đắk Lắk) về xuôi. Ban đầu ngự trên núi cao (nơi có khí hậu lạnh) sau đó len xuống các triền núi ven biển. Rồi trở thành đặc sản hoa xuân ở Bà Rịa-Vũng Tàu, Phước Hải, Long Hải, Cần Giờ...

< Tháng 12, những cành đỗ mai trụi lá cuối đông.

Lý do để cây phát triển là ngoài cho hoa đẹp, cây rất dễ trồng do ưa sáng. Chỉ cầm cắt cành cắm xuống đất ẩm, chăm tưới nước là cây phát triển tốt. Tại các vùng núi đá ven biển, đỗ mai là loại cây lý tưởng vì vừa có hoa đẹp, lại có tác dụng phủ xanh.
Dulichgo
Chạy dài theo bờ biển Phước Hải có khá nhiều triền núi trồng đỗ mai. Tháng Giêng, mùa hoa nở, giới nhiếp ảnh săn hoa lại í ới rủ nhau phóng xe máy đi ngắm những con đường hoa từ đèo cao đến xa lô ven biển Bà Rịa, Phước Hải…

< Hoa đỗ mai ở Bảo Lộc.

Theo các học trò kỳ cựu của trường Nông Lâm Mục Súc Bảo Lộc, cách đây hơn nữa thế kỷ, giáo sư Lê Văn Ký (vị giám học đầu tiên của trường, cũng là thầy giáo đầu tiên của ngành Lâm nghiệp) trong một lần hướng dẫn môn sinh trong môn phân loại thực vật có bảo: “Hàng cây đỗ mai trồng từ cổng trường Bảo Lộc về hướng Lưu Xá D là do thầy đem từ rừng về. Thầy đặt tên là đỗ mai vì trái nó giống trái đậu và bông nó giống như bông mai”.

< Đỗ mai trắng ở Bà Rịa.

Thầy Ký hiện đang sống tại Đồng Tháp và vẫn còn rất minh mẫn. Trong một lần về thăm cách đây trên mười năm, khi người viết hỏi về chuyện này, ông khiêm tốn trả lời: “Thầy chỉ đặt tên cho cây hoa ấy là đỗ mai. Còn các cái tên khác như đỗ đào, anh đào giả thì ai cứ yêu thích tên gì gọi tên đó. Quan trọng là cây hoa đẹp đã được biết đến và đang được phát triển rộng khắp...”.

< Đỗ mai hồng Đà Lạt. Loại này dễ nhầm với mai anh đào. Trong khi hai loài cây hoàn toàn khác nhau.
Dulichgo
Ngoài chuyện người thầy đặt tên cho cây hoa đỗ mai, theo ký ức của những sinh viên Nông Lâm Mục Súc ngày đó, trong sân trường trồng rất nhiều hàng cây được đặt tên rất lãng mạn như hoàng hoa lộ (cây muồng hoa vàng), đào hoa lộ (cây đỗ mai)...

Mỗi hàng cây được trồng luôn được chăm sóc từ những lớp sinh viên gắn bó, nhưng do tác động thời gian, kinh tế, con người đã gần như mất dần vì già cỗi. Còn nếu như còn, có thể coi cội đỗ mai còn sót trong sân trường Bảo Lộc bây giờ là một trong những cụ cây có tuổi đời mang tính lịch sử phát triển lâm học.

< Đỗ mai phớt hồng ở Long Hải, Bà Rịa - Vũng Tàu.

Từ thảm rừng cây xanh được bảo tồn nầy, hướng phát triển của trường từ Quốc Gia Nông Lâm Mục đến Trung học Nông Lâm Súc, là ban Thủy lâm sẽ trồng bổ sung thêm các loài cây (ngày đó gọi là các sắc mộc) để biến không gian xanh quanh trường thành một bộ sưu tập cây rừng Việt Nam.
Dulichgo
Nhưng việc này đã bị ngưng trệ do chiến tranh, sau này thì không còn ai tiếp nối nữa.

< Cây hoa đỗ mai đang nở hoa trong công viên Tao Đàn. Cây này cao to, có thể rất cao tuổi. Do bị các cây khác chen chắn, lại vướng các mái bạt nơi pha chế nước giải khát gần đó nên không thể chụp toàn cảnh.

Ở TP.HCM, ngoài Thảo Cầm viên, khách nhàn du có thể ngắm một cây hoa đỗ mai đang nở hoa tại khu vực cà phê vườn tượng trong công viên Tao Đàn. Cây này khá cao, lại bị che khuất nên khi nở hoa ít được lưu ý.

Theo Trần Duy (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!